Khám phá bí mật cô gái Nguyễn Thanh Tú tự chữa bệnh mù của mình

Một cô gái phải bỏ đi cả đôi mắt của mình đã nhìn thấy ánh sáng, có thể trông thấy gương mặt mình trong gương và nhìn nắng lên trên hàng cau trước ngõ…

Toimu

Chuyện hoang đường chăng? Nguyễn Thanh Tú, cô gái ấy đã kể lại tuổi thơ dữ dội và hành trình từ bóng tối đến với thế giới ánh sáng trong cuốn tự truyện của mình.

“Tôi mù?”- tự truyện của cô gái mù “có phép lạ” vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Công ty Đông A ấn hành (15/6/2006), cuốn sách dẫn dụ độc giả tới một thế giới chưa từng có…

Côn Sơn – một ngày thu cách đây đã 2 năm, tôi gặp Nguyễn Thanh Tú khi cô đang cùng những người mù tập dưỡng sinh.

Gương mặt cũng thanh tú như tên gọi, làn da trắng hơi xanh xao, Tú giống như một tiểu thư quen sống cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”. Nhưng đằng sau vẻ ngoài khuê các ấy là một quãng đời bất hạnh với những ký ức buồn.

Mắc chứng Glo-côm bẩm sinh, mới cất tiếng khóc chào đời, Tú được đưa từ nhà hộ sinh đến thẳng Viện Mắt. Bốn lăm ngày tuổi, Tú lên bàn mổ lần đầu, mười sáu tuổi phải bỏ cả hai mắt sau mười lần phẫu thuật. Tú sống trong thứ bóng tối đậm đặc và tưởng chừng như vĩnh viễn.

Bóng tối ấy dường như sẽ làm Tú tàn phế về mặt tâm hồn, sẽ tuyệt vọng… nếu “ánh sáng cuối đường hầm” không xuất hiện khi tháng 10/1994 Tú được giới thiệu lên Hội Người mù Việt Nam để tiếp cận một phương pháp dưỡng sinh. Người hướng dẫn phương pháp này – nhà văn Nguyên Bình – đã giúp Tú kiên trì tập.

Tập luyện được một thời gian, ngày nọ Tú bỗng thấy không gian bừng lên, một thứ ánh sáng rực rỡ bao phủ đôi mắt cô. Từ chỗ “nhìn” còn mờ mờ, ảo ảo dần dần Tú “nhìn” rõ hơn.

Cô thấy những chùm hoa khế đang rụng trước sân, chiếc lá vàng bay là là dưới mái hiên… Những khoảnh khắc đời thường ấy đối với cô gái phải đeo mắt nhựa này là một cái gì đó còn kỳ diệu hơn cả chuyện cổ tích…

“Thế giới ánh sáng” của cô gái mù này đã được kể lại trong cuốn tự truyện mà Tú bắt đầu viết từ năm 1999. Viết bằng chữ bình thường, viết bằng chữ nổi, rồi “phiên dịch” lại. Cần mẫn với những con chữ gần bảy năm, giờ đây “Tôi mù?” đã xuất hiện trên các hiệu sách. Với Tú, cuốn tự truyện “Tôi mù?” là một cột mốc đánh dấu bước ngoặt trong hành trình đi tìm ánh sáng của người mù.

Tú cầm cuốn tự truyện trên tay, đôi mắt nhựa của cô dường như đang ánh lên những tia sáng hạnh phúc.

Cô nói: “Cuốn sách này phải ra đời như một lẽ đương nhiên bởi vì nó rất có ích cho hành trình tìm lại ánh sáng của người mù. Em muốn chuyển một thông điệp: Trên đời đang có một phương pháp tìm ánh sáng cho người phải chịu sự khắc nghiệt của số phận.

Em không có ý định viết một tác phẩm văn chương. Bằng việc kể lại quãng đời từ bóng tối tới ánh sáng của mình, em muốn gửi gắm tới những người khiếm thị một niềm hy vọng, một nghị lực vươn tới, vượt lên số phận, khẳng định giá trị của chính mình”.

“Dường như Tú đang gắn cuộc đời mình với việc đi tìm ánh sáng cho người mù? Một công việc duy nhất mà Tú yêu?”.

Thanh Tú trả lời bằng tiếng cười trong veo: “Công việc em đang làm nhọc nhằn đến mức không yêu nó được. Biến cái hoang tưởng thành hiện thực- một cái gì đó “điên” như húc đầu vào đá.

Nhưng điều quan trọng là cái tưởng chừng như hoang tưởng đó đã có kết quả, nhiều người mù tập luyện phương pháp này đã “nhìn thấy” và bản thân em cũng được nó “cứu rỗi”.

Đã mấy năm nay, ngôi nhà rợp bóng cây của Tú trở thành nơi lui tới của nhiều người mù. Họ đến đây để được cô gái “có phép lạ” này hướng dẫn tập dưỡng sinh. Không ít người trong số đó đã thấy bừng lên trong mắt thứ ánh sáng mà họ đinh ninh rằng đã bị số phận tước đoạt vĩnh viễn. ánh sáng của đức tin, của khát vọng sống như những người hoàn toàn lành lặn?

Đã mấy năm nay, Tú âm thầm hướng dẫn tập dưỡng sinh cho những người cùng cảnh ngộ, cô làm việc này tự nhiên như nó phải thế, không hề đòi hỏi bất cứ sự thù lao nào. Với Tú, thù lao lớn nhất là khi những đôi mắt đã “ngủ quên” kia tự nhiên thức dậy.

Người ta gọi Tú là cô gái mù có “phép lạ”. Tôi đã được tận thấy “phép lạ” của Tú trong chuyến lên Côn Sơn đi thực tế với nhóm người mù của nhà văn Nguyên Bình.

Tôi còn nhớ đó là một buổi tối mùa thu êm như nhung, Thanh Tú đứng bên hồ nhìn vầng trăng lay động dưới đáy nước. Rồi cô gái mù này ngước lên nhìn không gian ngập tràn ánh bạc.

Những gì Tú kể lại sau đó hoàn toàn đúng như cảm nhận của tôi. Cũng hôm đấy, ở chùa Côn Sơn, Tú “nhìn” rõ đến mức cô có thể dùng que để chăn một đàn kiến đang chạy trên bãi cỏ.

Và mặc dù chiếc cặp của tôi để trong tủ ở khách sạn cách Tú hàng trăm mét, nhưng Tú đã đọc vanh vách trong đó chứa cái gì. Tin được không? Điều đó cần có thời gian và cần cả những tấm lòng khoan dung sẵn sàng tiếp nhận và chấp nhận những điều chưa- từng- có còn chưa được khám phá trong thế giới này.

Điều mà tôi bắt gặp trong cuốn tự truyện của cô gái vốn “nghèo hai con mắt” này là một tâm hồn giàu có đầy những cung bậc rung cảm trước cuộc sống.

Tuổi thơ của Tú không những bất hạnh vì mất đôi mắt mà còn phải chịu nỗi đau mất bố quá sớm. Mẹ Tú bươn chải nuôi hai chị em trong khi phải chống chọi với một số thế lực đòi cướp ngôi nhà mà họ đang ở.

Có lẽ vì thế mà trong cuốn tự truyện luôn xuất hiện hình ảnh của những con người gặp nhiều thiệt thòi, mất mát trong cuộc sống. Một cô gái mù bị cướp mất con, một ông lão mắc bệnh hiểm nghèo, phải bán hết gia sản còm để chữa bệnh…

Nhưng xuyên suốt tất cả, vẫn là niềm yêu sống và nghị lực phi thường của cô gái vừa ra đời đã có lý do để tìm đến cái chết.

Nhà văn Nguyên Bình nói về người học trò của mình: “Những người, những việc kể trong “Tôi mù?” có thể xếp vào loại Chuyện lạ có thật, thứ chuyện làm thỏa mãn trí tò mò của số đông.

Nhưng đọc kỹ và không định kiến, ta sẽ thấy đấy là công việc rất nghiêm túc. Lạ, vì nó vượt ra ngoài những hiểu biết của chúng ta… Dám mơ ước và dũng cảm biến ước mơ tưởng là hoang đường thành hiện thực, qua những trang viết chân thật, Nguyễn Thanh Tú gửi thông điệp cho mỗi chúng ta: đừng tuyệt vọng, dù trong đời gặp tai ương bất hạnh đến đâu.

Trên con đường gian nan tìm lại ánh sáng, tuy chưa có kết quả hoàn toàn như mong muốn, Nguyễn Thanh Tú đã trở thành người có nhiều để cho. Phẩm chất người ở tầm mức ấy không phải ai cũng có được”.

Về nhà văn Nguyên Bình

Nhà văn Nguyên Bình (sinh 24/2/1938)  66 tuổi  nhưng trông ông cứ như một cụ già đã bước qua tuổi “xưa nay hiếm” từ khá lâu rồi. Có lẽ, việc “lão hóa” của ông có một phần nguyên nhân từ cuộc đời quá nhiều trắc trở, truân chuyên…

Cuối những năm 1960, chàng trai Hà Nội Hoàng Đức Phú – tên thật của nhà văn Nguyên Bình – là một phóng viên tài năng, xông xáo của Báo Hải Phòng. Nhưng, chính cái tài ấy, cùng với tính khí thẳng thắn, bộc trực, chàng phóng viên trẻ này đã khiến một số người cảm thấy khó chịu. Tuy nhiên, cái “tội” lớn nhất của Nguyên Bình là “dám” thân thiết với nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Năm 1968, khi cây bút tên tuổi này bị quy kết là “có vấn đề”, ông cũng bị soi xét. Đang là phóng viên, ông bị chuyển sang phòng tiếp bạn đọc. Suốt 13 năm trời, dù vẫn được bình bầu là lao động tiên tiến, mức lương của ông vẫn chỉ phóng viên bậc 4…

Năm 1978, cơ quan của Nguyên Bình xì xầm nhỏ to vì cuốn tiểu thuyết Những ngày đã qua, cho rằng đây là tập sách “chống phá”. Chỉ đến khi cuốn sách được Đài Tiếng nói Việt Nam phát trong chương trình Đọc truyện đêm khuya suốt một tháng trời, rồi giành giải A của Hội Nhà văn năm 1981, người ta mới hết cớ để hạch sách ông. Mệt mỏi, ông nộp đơn xin nghỉ mất sức.

Đã nghèo cứ gặp eo

Trở về Hà Nội với hai bàn tay trắng, vợ chồng ông được một người bạn cho ở nhờ trong căn nhà cấp 4 khu tập thể Trường Nguyễn Ái Quốc II. Một thời gian thì ông có “sao chiếu mệnh”: được nhận một chiếc xe ba-bet-ta – giải thưởng của tác phẩm Những ngày đã qua. Ngay lập tức, ông vác chiếc xe – một tài sản rất “oách” ngày đó – đi bán, được 17.000 đồng, vay mượn thêm 3.000 đồng, ông chuộc lại căn nhà 14 m2 của mẹ mình ở 28 Sơn Tây, lấy chỗ chui ra chui vào.

An cư rồi, nhưng ông vẫn chưa thể lạc nghiệp. Trường viết văn Nguyễn Du và Cục Điện ảnh sẵn sàng ký đơn tiếp nhận Nguyên Bình, nhưng vẫn không thể vượt qua được những áp lực từ Hải Phòng. Ông trở thành chủ hàng chè chén ngay nhà mình. Chẳng mấy chốc, hàng nước tí teo ấy phải đóng cửa, vì khách hàng nợ quá nhiều. May cho ông, lúc này đã kịp học nghề làm va-li của một trong những vị khách quen của quán. Mỗi ngày, ông phải nấu khoảng chục cân bột sắn để làm hồ dán va-li. Nhà chật, ông phải đưa nồi bột ra trước vỉa hè mà khuấy. Từ Hải Phòng lên chơi, chứng kiến cảnh ấy, nhà văn Bùi Ngọc Tấn kêu lên: “Sao cánh văn chương bọn mình lại khổ nhục như thế này?”. Ông cười, đáp lời bạn: “Mày cứ chờ xem, mấy năm nữa tao mở xưởng, rồi xuất khẩu va-li ra nước ngoài, tha hồ giàu”.

Thế nhưng cuộc sống của ông ngày một thiếu thốn hơn. Năm 1988, vợ ông đành nghỉ việc đi xuất khẩu lao động ở Đức. Hai năm sau về nước, nhờ vào khoản đền bù thất nghiệp của nước sở tại, vợ chồng ông mua được một mảnh đất khá rộng rãi ở cuối phố Tô Vĩnh Diện. “Phần thì để ở, phần làm lều văn để bạn bè văn chương tụ tập, phần thì xây nhà cho Tây thuê”- ông đã tính đâu vào đấy. Nhưng sự đời có mấy khi theo ý người? Vợ ông ốm nặng, hai đứa con đang tuổi ăn tuổi học, bao nhiêu việc phải chi tiêu, rồi ông lại “dính” vào những người mù, của nả trong nhà cứ thế mà đội nón ra đi. Đất đai của vợ chồng ông lần lượt sang tên cho người khác, đến nay thì chỉ còn một mảnh con con để 4 con người trú ngụ…

Mang lại ánh sáng cho người mù

Dù được các bạn văn quý trọng, yêu mến nhưng Nguyên Bình lại không phải là một cái tên quen thuộc với độc giả vì số lượng tác phẩm mà ông đã xuất bản không nhiều. Phải chăng điều này có phần nguyên nhân từ cuộc đời không mấy suôn sẻ của ông? Nhưng có lẽ, lý do quan trọng hơn cả, đó chính là việc ông tìm được một đường đi khác mà theo ông, nó còn ý nghĩa hơn cả chuyện văn chương…

Năm 1994, vợ ông bị bệnh thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình rất nặng. Nghe lời bạn mách bảo, ông tìm học môn Tĩnh công ý thức để về dạy lại cho vợ, hy vọng sẽ khỏi bệnh. Tập được mấy buổi, khi vẫn nhắm mắt ngồi trong căn phòng tối om, đột ngột ông thấy căn phòng sáng lên, mọi vật hiện ra rõ ràng. Thử đi thử lại nhiều lần, ông hiểu rằng mình đã nhìn được không phải bằng mắt. Trong ông chợt lóe lên ý nghĩ: mình nhắm mắt nhưng nhìn thấy được, chắc người mù cũng có thể nhìn thấy được. Ông liền tìm đến Hội Người mù, đề nghị một số người cùng luyện tập. Sau nhiều lần mày mò, thử nghiệm, ông đã tìm ra phương pháp Dưỡng sinh phục hồi chức năng, giúp người mù có thể nhìn được thế giới quanh mình…

Phần lớn, những người mù tập luyện theo phương pháp này nhìn thấy được mọi vật quanh mình. Cách tập luyện như thế nào để có được điều đó – những việc này đã được kể khá tỉ mỉ, chi tiết trong cuốn tự truyện Tôi mù? của Nguyễn Thanh Tú. Lý giải hiện tượng này như thế nào, đó là việc mà các nhà khoa học cần phải làm. Điều đáng nói ở đây là cái tâm không vụ lợi của nhà văn Nguyên Bình. Không chỉ tìm ra phương pháp tập luyện mang lại ánh sáng cho người mù, ông còn bỏ tiền túi tổ chức những chuyến đi tập ở Côn Sơn cho hàng chục người khiếm thị. Hiện nay, khoản thu nhập đều đặn hằng tháng của gia đình nhà văn Nguyên Bình là 460.000 đồng tiền trợ cấp mất sức. Đất đai, tiền bạc đã dần dần ra đi, và ông đã tính đến chuyện bán ngôi nhà mình đang ở, mua một căn nhà nhỏ tại một làng quê nào đó, lấy tiền làm những việc khác…

“Một trong những lý do khiến tôi viết Tôi mù? là để cảm ơn thầy tôi” – chị Nguyễn Thanh Tú nói. Có một điều ít người biết: hành trình tìm ánh sáng của những người mù mà Nguyễn Thanh Tú thuật lại trong tự truyện của mình từng được kể khá tỉ mỉ, chi tiết trong Người mù và tôi – cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyên Bình, được NXB Thanh niên ấn hành vào tháng 8-2005.

Lê văn Tư, tổng hợp.

One thought on “Khám phá bí mật cô gái Nguyễn Thanh Tú tự chữa bệnh mù của mình

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *